Trang chủ >> Nội san

Tổng hợp báo cáo tóm tắt các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2015-2016

  • Đề tài 1: SƠ BỘ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG ỨC CHẾ MỘT SỐ DÒNG TẾ BÀO UNG THƯ CỦA CÂY AN XOA  (Helicteres hirsuta Loureiro)

    Lê Thị Hải Yến; Nguyễn Thị Nga; Nguyễn Thị Quyên;

    Phạm Thị Hằng Nga; Lưu Thị Bích Ngọc

    Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sơ bộ xác định được thành phần hóa học trong cây An xoa (Helicteres hirsuta Loureiro) thu hái ở Bình Phước có đường khử, terpenoid, coumarin, tanin và flavonoid. Hàm lượng polyphenol toàn phần tính theo acid galic trong mẫu khô kiệt là 0,3667%.Phân đoạn dịch chiết cloroform từ cây An xoa có tác dụng ức chế tế bào ung thư mạnh trên các dòng: ung thư biểu bì miệng KB (IC50 = 9,22 µg/ml); ung thư gan Hep G2 (IC50 = 15,7µg/ml);  ung thư phổi LU-1 (IC50 = 11,2 µg/ml).Tác dụng ức chế tế bào ung thư vú MCF-7 tương đối yếu (IC50 = 78,7 µg/ml).

    Từ khóa: cây An xoa, Helicteres hirsuta Loureiro, ức chế tế bào ung thư.

     

    Đề tài 2: NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG TÁO BÓN VÀ BÀO CHẾ VIÊN NANG CỨNG TỪ CAO LỎNG BMD

    Ma Thị Hồng Nga, Nguyễn Thị Hoa Hiên,

    Vũ Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Lan Anh;
    Nguyễn Thị Hương – Công ty Cổ phần Armephaco.

    Cao lỏng BMD được bào chế từ 3 vị dược liệu Hòe hoa, Đương quy, Diếp cá và được nghiên cứu tác dụng theo hướng điều trị bệnh trĩ. Chúng tôi bào chế cao lỏng BMD, xây dựng TCCS và kiểm tra chất lượng theo TCCS. Những mẻ cao đạt TCCS được nghiên cứu tác dụng chống táo bón và bào chế viên nang cứng.

      Nghiên cứu tác dụng chống táo bón ex vivo của cao lỏng BMD trên ruột thỏ cô lập ở các nồng độ khác nhau và nhận thấy: Ở 2 nồng độ cao lỏng BMD 0,125% và 0,0625% thì tác dụng làm tăng tần số và biên độ nhu động ruột lại thể hiện rõ rệt (p < 0,001), đặc biệt là nồng độ 0,0625%. Nghiên cứu tác dụng đối kháng với atropin của cao lỏng BMD trên nhu động ruột thỏ cô lập kết quả cho thấy: cao lỏng BMD 0,0625% lần 1 làm tăng rõ rệt tần số và biên độ nhu động ruột thỏ cô lập so với ban đầu (p < 0,001). Atropin làm giảm tần số và biên độ nhu động ruột thỏ so với ban đầu và đặc biệt so với khi dùng BMD 0,0625%  lần 1 (p < 0,05). Dùng cao lỏng BMD 0,0625% lần 2 làm tăng tần số và biên độ nhu động ruột thỏ cô lập so với dùng atropin (p < 0,001).

    Bào chế viên nang cứng nghiên cứu đã xây dựng được công thức viên nang cứng bào gồm cao đặc BMD (325 mg), calci carbonat (65 mg), tinh bột sắn (247 mg), magnesi stearat (6,5 mg), talc (6,5 mg) và quy trình bào chế theo phương pháp xát hạt ướt. Đồng thời nghiên cứu đã xây dựng được TCCS bán thành phẩm dạng hạt, viên nang cứng và áp dụng kiểm tra trên những mẻ chế phẩm bào chế được.

     

    Đề tài 3: NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG BẢO VỆ GFAN VÀ CHỐNG OXY HÓA CỦA CAO LỎNG AN XOA (HELICTERES HIRSUTA LOUREIRO) TRÊN THỰC NGHIỆM

    Vũ Thị Minh Hiền; Nguyễn Thị Thanh Hà; Nguyễn Hữu Quân;

    SV. Nguyễn Thị Ngọc Ánh; SV. Nguyễn Thị Anh Trang

    Cây An xoa (Helicteres hirsuta Loureiro) đã được nhắc đến trong danh mục thực vật chí ở Việt Nam và trên thế giới, dùng để điều trị nhiều bệnh lý khác nhau trong đó có tác dụng với các bệnh gan. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hóa của cao lỏng An xoa qua mô hình thực nghiệm: định lượng sự thay đổi hoạt độ AST, ALT, MDA ở gan chuột nhắt sau khi gây độc bằng paracetamol.

    Kết quả cho thấy: cao lỏng An xoa liều 24g/kg có tác dụng bảo vệ gan thông qua làm giảm hoạt độ AST, ALT, hạn chế được tổn thương cả cấu trúc đại thể và vi thể gan chuột nhắt trắng do paracetamol gây ra với liều 300mg/kg. Cao lỏng An xoa liều 24g/kg cho thấy tác dụng tốt hơn liều 12g/kg. Cao lỏng An xoa cả hai liều có tác dụng chống oxy hóa thông qua làm giảm MDA dịch đồng thể gan.

     

    Đề tài 4: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ MỘT SÓ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐÉN CHẢY MÁU NÃO THẤT TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH 64 DÃY VÀ 256 DÃY”

    Lê Thị Thúy Lan, Cao Văn Chính,

    Tiên Thị Nga, Nguyễn Việt Hà

    Mục đích: Mô tả đặc điểm hĩnh ảnh chảy máu não thất V à Bước đầu xác định một số yếu tố liên quan đến chảy máu não thất trên cắt lớp vi tính 64 dãy và 256 dãy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 52 bệnh nhân được chẩn đoán CMNT không do chẩn thưorng sọ não trên CLVT 64 hoặc 256 dãy, được chụp CLVT mạch não 64 dãy hoặc 256 dãy không và có tiêm thuốc cản quang tại khoa CĐHA- BV Bạch Mai từ 8/2014- 2/2016. Kết quả: Chảy máu não thất là bệnh cấp cứu nội khoa, lứa tuổi hay gặp nhất 50-69 (67,31%). Bệnh gặp ở nam nhiều horn nữ (tỷ lệ 3/1).Vị trí khối máu tụ tiên phát trong nhu mô hay gặp nhất là vùng đồi thị, nhân xám trung ưomg (55,55%), thùy não (41,66%) .Vị trí có máu trong não thất hay gặp nhất là sừng chẩm não thất (90,37%), não thất bốn (30,76%), sừng trán (28,64%).Kích thước khối máu tụ càng lớn, thì nguy cơ tiên lượng xấu càng cao, tỷ lệ tiên lượng xấu của kích thước khối máu tụ nhỏ (16,67%), trung bình (33,33%), lớn ( 50%). Mức độ chảy máu não thất càng nhiều nguy cơ tiên lượng xấu càng cao, tỷ lệ tiên lượng xấu : độ I (11,43%), độ II (18,18%), độ III (33,33%).Chảy máu não thất tiên phát có tỷ lệ tiên lượng tốt hơn chảy máu não thất thứ phát. Nguyên nhân chảy máu não thất hay gặp nhất là do tăng huyết áp (tăng huyết áp đơn thuần (16,33%), và tăng huyết áp phối họp với nguyên nhân khác (51,9%), sau đó đến phình mạch (34,69%). Chảy máu não thất ở người dưới 50 tuổi, nguyên nhân thường do dị dạng mạch (30%), ở người từ 50 tuổi trở lên phình mạch não (34,69%) và tăng huyết áp (tăng huyết áp đơn thuần và tăng huyết áp phổi hợp vói nguyên nhân khác). Chảy máu não vị trí đồi thị và nhân xám trung ương nguyên nhân thường do THA (25%), thùy não thường do phình mạch (42,86%). Kết luận: Kích thước khối máu tụ càng lớn, thì nguy cơ tiên lượng xấu càng cao. Mức độ chảy máu não thất càng nhiều nguy cơ tiên lượng xấu càng cao. Chảy máu não thất tiên phát có tỷ lệ tiên lượng tốt hơn chảy máu não thất thứ phát. Nguyên nhân chảy máu não thất hay gặp nhất là do tăng huyết áp sau đó đến phình mạch. Chảy máu não thất ở người dưới 50 tuổi, nguyên nhân thường do dị dạng mạch, ở người từ 50 tuổi trở lên phình mạch não và tăng huyết áp. Chảy máu não vị trí đồi thị và nhân xám trung ương nguyên nhân thường do tăng huyết áp, thùy não thường do phình mạch.

     

    Đề tài 5: NGHIÊN CỨU TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA ĐOẠN GEN THIẾT KẾ CẶP MỒI ĐẶC HIỆU TRONG PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN NHANH LIÊN CẦU NHÓM B Ở PHỤ NỮ MANG THAI

    Nguyễn Hồng Phúc, Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Bùi Thu Hằng,

    Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Trọng Tấn

              Gen cfb mã hóa cho yếu tố CAMP được sử dụng làm gen đích cho phản ứng PCR chẩn đoán liên cầu B ở phụ nữ mang thai tuần từ 34 - 37. So sánh trình tự đoạn gen này trên chủng S. agalactiaae ATCC 13813 với các chủng thu thập từ mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo, kết quả cho thấy sự tương đồng về trình tự như sau: 73,3% số chủng giống 100% so với chủng S. agalactiaae ATCC 13813; 26,7% số chủng có sự tương đồng từ 95,7% đến 99,3%.

     

    Đề tài 6: XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ NHẠY CẢM VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN SINH β- lactamase PHỔ RỘNG (ESBL: Extended Spectrum β-lactamase) TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC, NĂM  2015-2016”

                   Hà Thị Nguyệt Minh, Bùi Huy Tùng,

                                        Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Thủy,Vũ Văn Hải

    Xác định tỷ lệ nhạy cảm với kháng sinh từ 115 chủng vi khuẩn sinh ESBL được phân lập được từ 115 bệnh nhân tại khoa Vi sinh, Bệnh viện Việt Đức trong 6 tháng (từ tháng 11/2015 đến 4/2016), cho kết quả có 5 loại vi khuẩn sinh ESBL nhưng chủ yếu là:  E. coli 73%, klebsiella 22%, Proteus 4%.

    Kết quả nhận được là: Tỷ lệ nhạy cảm của E. coliKlebsiella  với cefoperazon + sulbactam (86,9%; 88%); ticarcillin + clavulanate (69%; 40%); amikacin (65,4%; 40%); levofloxacin (51,2%; 36%); cefoxitin (54,8%; 72%). E. coliKlebsiella kháng với kháng sinh cefuroxim, ceftriaxon, cefotaxim, ceftazidim (100%).

    Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) ertapenem và imipenem của 33 chủng vi khuẩn sinh ESBL: vi khuẩn sinh ESBL kháng với imipenem (≥ 4 µg/mL) với 12,1% và 9,1%, kháng với ertapenem  (2 µg/mL).

     

    Đề tài 7: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG CAI RƯỢU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THANH NHÀN

    Trần Thanh Tâm, Hoàng Anh Lân, Phạm Văn Tân,

    Vũ Hồng Vinh, Nguyễn Thị Huệ

           Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Hội chứng cai rượu bao gồm một loạt các triệu chứng xuất hiện sau khi bỏ rượu hoặc uống giảm số lượng rượu đáng kể so với trước ở người nghiện rượu. Hội chứng cai rượu là một cấp cứu tâm thần, nếu không được điều trị đúng sẽ dẫn đến một loạt các rối loạn nặng nề với tỷ lệ tử vong còn rất cao. Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng đối chứng trước – sau thu thập các chỉ số về việc theo dõi điều trị 34 bệnh nhân có hội chứng cai rượu được điều trị tại khoa Thần kinh – Bệnh viện Đa khoa Thanh nhàn từ 09/2015 đến 03/2016. Kết quả: 100% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là nam giới, tuổi trung bình 48,97 ± 10,15 tuổi; 85,3% bệnh nhân xuất hiện hội chứng cai rượu từ 2 ngày đầu sau ngưng rượu; các rối loạn thần kinh thực vật (run, vã mồ hôi); rối loạn tâm thần (lo âu); rối loạn vận động (kích động) giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị; có 3 yếu tố liên quan đến kết quả điều trị là: không có bệnh lý gan từ trước, thời gian  2 ngày xuất hiện hội chứng cai sau khi ngưng rượu, bệnh nhân không có các rối loạn sinh hóa máu, sự khác biệt đều có YNTK với các giá trị p < 0,05. Kết luận: các rối loạn thần kinh thực vật và tâm thần giảm có ý nghĩa so với lúc trước điều trị, liên quan chính đến 03 yếu tố không có bệnh lý gan từ trước, thời gian từ sau 2 ngày xuất hiện hội chứng cai sau khi ngưng rượu, bệnh nhân không có các rối loạn sinh hóa máu.

    Đề tài 8: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN CAO ĐẲNG ĐIỀU DƯỠNG CHÍNH QUY TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015

    Trần Thuý Liễu;Trần Thọ Tuấn; Ngô Thị Liên; Ngô Thị Bích Hạnh; Đỗ Cẩm Vân                                                                

    Đánh giá thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở sinh viên trường Cao đẳng Y tế Hà Nội. Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ có trầm cảm ở sinh viên cao đẳng Điều dưỡng chính quy và mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở sinh viên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Sinh viên cao đẳng Điều dưỡng chính quy, năm học 2015-2016; phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả: Tỷ lệ trầm cảm chung: 9,3%. Những sinh viên giải quyết khó khăn bằng cách tâm sự nhờ sự giúp đỡ của cha mẹ nguy cơ bị trầm cảm chỉ bằng 0,34 lần. Kết luận: Tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên cao đẳng Điều dưỡng chính quy trường Cao đẳng Y tế Hà Nội là 9,3%. Giải quyết khó khăn bằng cách tâm sự nhờ sự giúp đỡ của cha mẹ được xác định là có liên quan đến rối loạn trầm cảm trong nghiên cứu này.

     

    Đề tài 9: THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MẮC STRESS TRONG SINH VIÊN NĂM THỨ BA, HỆ CAO ĐẲNG CHÍNH QUY TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI, NĂM HỌC 2015-2016

    Đoàn Công Khanh; Mai Thị Dung; Bùi Văn Dũng;

    Nguyễn Thị Hiếu; Nguyễn Hải Yến

    Một nghiên cứu ngang đã được thực hiện tại trường cao đẳng Y tế Hà Nội với công cụ thu nhập thông tin là bộ câu hỏi tự điền được tiến hành trên 398 đối tượng là các sinh viên năm thứ ba hệ cao đẳng chính quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc stress tính chung cho cả hai giới là 50,8%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc stress tính chung cho cả hai giới là 50,8%. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết có các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe về vấn đề  stress để nâng cao khả năng đương đầu với stress của sinh viên.

     

    Đề tài 10: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THỰC HÀNH Y ĐỨC CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG ĐIỀU DƯỠNG KHÓA 8 THỰC TẬP TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN Ở HÀ NỘI, NĂM 2015

    Phạm Thu Hà; Nguyễn Thu Trà; Phương Văn Hoàng;

    Nguyễn Minh Phương; Nguyễn Thị Mai

    Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 797 sinh viên cao đẳng điều dưỡng khoá 8 - trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đang thực tập 8 bệnh viện ở Hà Nội. Một mẫu phiếu tự điền và một bảng kiếm đã được sử dụng nhằm tìm hiểu về nhận thức và thực hành y đức của ĐTNC. Ket quả nghiên cứu cho thấy giáo viên và internet là hai nguồn cung cấp thông tin y đức chính của sinh viên (81,1% và 78,9%); Nhận thức và thực hành y đức của sinh viên tưong đối hạn chế (tỷ có nhận thức đạt và thực hành đạt lần lưọt chiếm 62,6% và 9,9% ĐTNC). Kết quả tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thực hành y đức cho thấy, sinh viên tham gia chăm sóc >10 NB/ngày, sinh viên chăm sóc NB vào buổi sáng, sinh viên không yêu nghề , và sinh viên có nhận thức y đức không đạt có nguy cơ thực hành y đức không đạt cao hơn những sinh viên còn lại (p<0,05).

     

    Đề tài 11: KIẾN THỨC VÀ THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG CHO TRẺ DƯỚI 1 TUỔI CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TẠI XÃ THANH LIỆT HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2015 – 2016

    Quản Thị Ngát, Đặng Hương Giang,

     Nguyễn Lê Thủy, Hà Diệu Linh, Lương Anh Vũ

    Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng tiêm chủng và đánh giá kiến thức của người chăm sóc (NCS) về tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi tại xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2015 - 2016. Đối tượng nghiên cứu là cặp NCS/trẻ có độ tuổi từ 9 tháng đến 24 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả cho thấy: tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi TCĐĐ là 96%, tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin BCG là 98%, số trẻ có sẹo BCG đạt chuẩn là 98, tỷ lệ NCS có kiến thức chung về tiêm chủng đạt chiếm tỷ lệ 28%, 25% NCS có kiến thức đạt về TCĐĐ.

    Đề tài 12: KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH-SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG NĂM CUỐI VỀ MỘT SỐ LĨNH VỰC PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI NĂM 2016

    Mai Thị Minh Nghĩa; Lê Thị Thúy Quỳnh; Trần Vũ Hoàng Anh;

    Nguyễn Thị Thúy Anh; Nguyễn Thị Thu Trang

    Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Khảo sát sự hài lòng của HSSV về một số lĩnh vực phục vụ hoạt động đào tạo là một trong nhwungx kênh tham khảo quan trọng để nhà trường từng bước điều chỉnh các hành vi nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động đào tạo tại trường. Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thu thập các chỉ số nghiên cứu ở 400 HSSV điều dưỡng năm cuối từ tháng 9/2015 đến tháng 4/2016. Kết quả: Kết quả cho thấy điểm trung bình hài lòng của HSSV về nhà trường còn chưa cao. Tỷ lệ HSSV chưa hài lòng về nhà trường ở mức cao (79,3%). HSSV rất hài lòng đối với đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. không hài lòng về cơ sở vật chất của trường đặc biệt là hệ thống wifi của nhà trường, nhà vệ sinh chưa sạch sẽ, hệ thống điện nước đầy đủ. Kết quả cũng cho thấy có sự liên quan về giới, bậc học, nơi ở, kết quả học tập của HSSV đối với sự hài lòng về một số lĩnh vực phục vụ hoạt động đào tạo của trường.

     

    Đề tài 13: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SẢN PHỤ CON SO VỀ VẤN ĐỀ SINH MỔ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2015-2016

    Phạm Thúy Quỳnh, Đoàn Thị Vân, Trần Mai Huyên,

     Lê Tùng Lâm, Mã Thị Hồng Liên

    Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ của sản phụ co so về vấn đề sinh mổ tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2015-2016. Phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 368 sản phụ mang thai quý II khám thai tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 11/2015 đến tháng 2/2016. Kết quả: Trong 368 sản phụ tham gia nghiên cứu có 19,3% sản phụ mong muốn được sinh mổ. Số sản phụ có tuổi thia trên 36 tuần đi khám thai tại viện là 74,7%. Càng gần ngày sinh, mong muốn sinh mổ của sản phụ càng cao. 64,9% sản phụ cho rằng sinh mổ nhiều biến chứng hơn sinh đường âm đạo, có ảnh hưởng nhiều đến vấn đề cho trẻ bú sớm và gần con muộn hơn so với sinh đường âm đạo với tỷ lệ lần lượt là 65,8% và 62%. Tuy nhiên có 71 sản phụ vẫn lựa chọn sinh mổ vì nhiều yếu tố: mổ không đau (33,8%); sợ phải chịu đau đẻ (47,9%); sinh mổ nhanh (35,2%); phần lớn sản phụ có niềm tin mạnh mẽ vào việc sinh mổ nhanh hơn (70,4%); sữa về chậm hơn (61,7%); chọn được ngày giờ sinh (67,1%) và âm đạo không bị giãn sau sinh (52,7%). Sản phụ không tin vào việc sinh con mổ sẽ thông minh hơn (60,9%) hoặc sinh mổ là phương án tốt nhất cho con (63,3%) và cho mẹ (62,8%). Kết luận: Hầu hết các sản phụ đều có kiến thức khá tốt về cách sinh, những lợi ích và đôi khi cả những khó khăn cho cả mẹ và con nếu phải sinh mổ. Tuy nhiên về lĩnh vực thái độ có khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm mong muốn sinh đường âm đạo và mong muốn sinh mổ. Cần có nghiên cứu can thiệp sâu hơn làm tăng sự hiểu biết về kiến thức cũng như thái độ về vấn đề sinh mổ.

     

    Đề tài 14: THỰC TRẠNG TIỂU TIỆN KHÓ CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI KHOA SẢN, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG, NĂM 2015- 2016

    Nguyễn Thanh Phong, Hoàng Thu Hương, Hoàng Thị Lan Hương,

    Đào Thị Phương Dung, Lê Phương Thảo

    Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Rối loạn tiểu tiện là một trong những biến chứng xảy ra sau sinh. Tuy tỷ lệ gặp rối loạn tiểu tiện không cao nhưng thường ảnh hưởng nhiều đến đến chất lượng chăm sóc sau sinh cũng như chất lượng cuộc sống của sản phụ. Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thu thập các chỉ số về việc theo dõi, điều trị, chăm sóc của 360 sản phụ sau sinh tại khoa Sản- bệnh viện đa khoa Đức Giang từ 09/2015 đến 04/2016. Kết quả: Có 75,3% sản phụ đã đi tiểu sau sinh đường âm đạo 6 giờ và sau khi rút sonde tiểu 6 giờ (đối với sản phụ sinh mổ). Nguyên nhân chưa đi tiểu: không mót tiểu (34,8%); mót, không đi được (31,5%) và sợ không đi (22,5%). Có 18,6% sản phụ có hiện tượng tiểu khó sau sinh. 03 phương pháp chính để điều trị rối loạn tiểu tiện sau sinh là: hướng dẫn vận động (71,6%); hướng dẫn uống nhiều nước (64,8%) và hướng dẫn chườm ấm, xoa bàng quang (61,4%). 3 yếu tố liên quan chính đến tình trạng tiểu khó sau sinh là thời gian chuyển dạ trên 15 giờ; giảm đau trong đẻ và chế độ vận động sau đẻ không đúng, sự khác biệt đều có YNTK với các giá trị p < 0,05. Kết luận: Tỷ lệ rối loạn tiểu tiện của sản phụ sau sinh khá cao, liên quan chính đến 03 yếu tố thời gian chuyển dạ, sử dụng giảm đau trong đẻ và chế độ vận động sau sinh không đúng. Từ khóa: Sau sinh, tiểu khó.

     

    Đề tài 15: ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHÁT TRIỂN NANG NOÃN VÀ PHÓNG NOÃN CỦA BÀI THUỐC NGŨ TỬ DIỄN TÔNG TRÊN BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG

    Tạ Văn Bình, Thái Thị Hoàng Oanh,

    Bùi Thị Huyền Trang,Phạm Thị Hoài An,

    Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Thị Thuận

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phát triển nang noãn và phóng noãn của bài thuốc Ngũ tử diễn tông. Nghiên cứu trên 30 bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang trong thời gian từ 10/2015 – 4/2016 tại khoa Phụ-bệnh viện Y học cổ truyền trung ương. Kết quả cho thấy, sau 3 tháng điều trị tỷ lệ bệnh nhân có nang noãn trưởng thành và vượt trội (≥18mm) là 33,3 (p<0,05). Tác dụng phóng noãn chung là 53,33%.

     

    Đề tài 16: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP KÈM SUY THẬN MẠN TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ NĂM 2014

    Phan Thị Thanh Tâm, Hoàng Thị Minh Hiền, Trần Thị Nhị Hà,

    Nguyễn Văn Hưng, Hoàng Thị Nguyệt Phương

      Khảo sát 140 bệnh nhân  tăng huyết áp kèm suy thận có đến 96,4% bệnh nhân phải sử dụng phác đồ phối hợp thuốc, chủ yếu là chẹn thụ thể Angiotensin và chẹn kênh calci nhóm dihydropyridin. Sau 6 tháng theo dõi điều trị kết quả không còn bệnh nhân THA độ 2, độ 3 và có đến 104 bệnh nhân tăng độ thanh thải creatinin.

    Đề tài 17: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SAU 3 THÁNG ĐIỀU TRỊ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 NGOẠI TRÚ

    BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH  PÔN NĂM 2015-2016

    Nguyễn Thị Kim Chi và nhóm nghiên cứu

    Bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính gây mù, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt bỏ chi dưới. Bệnh tiểu đường có thể được điều trị với chế độ ăn kiêng, hoạt động thể chất, thuốc men và sàng lọc thường xuyên và điều trị các biến chứng. Mặc dù những khuyến cáo này cho bệnh nhân tiểu đường nhưng có rất ít bằng chứng về tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường với tương quan lâm sàng và điều trị bệnh tiểu đường typ 2 ở bệnh nhân ngoại trú. Mục tiêu: Đánh giá một cách toàn diện hiệu quả của các thuốc hạ đường huyết dùng cho bệnh nhân tiểu đường ngoại trú. Phương pháp: Trong nghiên cứu quan sát tiến cứu này, bệnh nhân ngoại trú mắc bệnh đái tháo đường ở bệnh viện Saint Paul, Hà Nội trong giai đoạn 09/2015 - 12/2015, đã từng xét nghiệm đường huyết lúc đói và xét nghiệm HbA1c ít nhất 2 lần và bắt đầu điều trị trong giai đoạn nghiên cứu đã được ghi danh. Kết quả: metformin, gliclazid và insulin là thuốc được sử dụng thường xuyên trong bệnh viện, trong đó metformin là thuốc thông dụng nhất (45,9%). Sự kết hợp của liệu pháp 2 thuốc là phổ biến nhất trong việc lựa chọn điều trị ban đầu. Vào cuối giai đoạn điều trị, liệu pháp duy nhất với metformin có ý nghĩa nhiều hơn đáng kể trong số những bệnh nhân có liều lượng trung bình là 1200-1450 mg/ngày. Giá trị glycemia nhồi máu thay đổi một cách đáng kể ở bệnh nhân (p <0,05) nhưng có nghĩa là mức HbA1c không giảm đáng kể ở bệnh nhân sau 3 tháng điều trị bằng thuốc giảm glucose. huyết áp giảm đáng kể ở bệnh nhân suy giảm. Mức cholesterol toàn phần giảm ở bệnh nhân nhưng triglycerid và LDL vẫn không thay đổi. Chúng tôi quan sát thấy một sự gia tăng nhẹ về mức độ hdlc của bệnh nhân. Việc lọc máu bệnh nhân vẫn không thay đổi. Kết luận: Trong nghiên cứu này, việc sử dụng thuốc hạ đường huyết đã làm giảm các giá trị glycemia lúc đói ở bệnh nhân tiểu đường loại 2 nhưng không làm thay đổi mức HbA1c. Theo dõi liều lượng của thuốc hạ đường huyết và nghĩa vụ điều trị ở bệnh nhân nên được kiểm soát kỹ lưỡng hơn.


    Đề tài 18: NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ HUYẾT HỌC Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI, NĂM 2015-2016

                      Phùng Thị Phương Chiêm, Nguyễn Thị Thơm,

    Dương Thị Thu Liễu, Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Thanh Bình

    Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi chỉ số  huyết học và mối liên quan giữa các chỉ số huyết học với một số chỉ số hóa sinh trên những bệnh nhân nhồi máu cơ tim  cấp điều trị tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, năm 2015-2016. Kết quả: Qua khảo sát 78 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp: Hầu  hết  số lượng bạch cầu tăng cao và về bình thường trong quá trình điều trị. Sự tương quan giữa chỉ số b ạch cầu mono có mối tương quan rất chặt chẽ với  CKMB.Kết luận: Các chỉ số bạch cầu về bình thường sau điều trị.

     

    Đề tài 19: MÔ TẢ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NANG THẬN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN XANH PÔN NĂM 2014-2016

    Nguyễn Minh An

    Đặt vấn đề: Nang đơn thận là một bệnh lành tính, chỉ nang có triệu chứng mới cần được điều trị. Chúng tôi trình bày một kỹ thuật mới được áp dụng điều trị tại bệnh viện của chúng tôi.

    Đối tượng và phương pháp: gồm 64 bệnh nhân từ 20 đến 80 tuổi với nang thận có triệu chứng, kích thước nang lớn hơn 5cm, được phẫu thuật bằng nội soi ổ bụng tại bệnh viện từ 1- 2014 đến 06- 2016. Kết quả nghiên cứu: 64 bệnh nhân đã được phẫu thuật nội soi ổ bụng thành công, thời gian phẫu thuật trung bình là 45 phút (dao động từ 25 đến 120 phút). Không có biến chứng, ít đau và xuất viện sau 2 đến 4 ngày sau khi được phẫu thuật.Kết luận: Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt chỏm nang đơn thận là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn.

     

    Đề tài 20: NGHIÊN CƯÚ  ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ PHÂN TỬ  TIÊN LƯỢNG CỦA UNG THƯ HẠ HỌNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

    Nguyễn Như Ước và cộng sự

    Nghiên cứu hồi cứu 45 bệnh nhân  có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư hạ họng được điều trị tại Khoa B1- Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương từ 1/2012 đến 12/2013, nhuộm hóa mô miễn dịch các dấu ấn p53, Ki67 và EGFR theo phương pháp ABC với các kit của Dako. Kết quả: Biểu hiện triệu chứng nuốt vướng/nuốt đau có 15 trường hợp (33,3%). Gặp 13 trường hợp nuốt vướng/khàn tiếng (28,9%). Nuốt vướng 10 trường hợp (22,2%). Nuốt vướng/khó thở có 4 trường hợp (8,9%). U khu trú ở xoang lê và ở xoang lê/ thanh quản là nhiều nhất (28,9% và 31,1% tương ứng). Tổn thương dạng sùi là chủ yếu (42,2%). Typ ung thư biểu mô vảy chiếm nhiều nhất (93,4%). Tỷ lệ p53 dương tính chiếm 75,6%, trong đó dương tính mạnh chiếm 42,3%, tỷ lệ Ki67 dương tính 100%, trong đó dương tính mạnh chiếm 71,1% và tỷ lệ EGFR dương tính chiếm 71,1%, trong đó dương tính mạnh chiếm 53,3%.

     

    Đề tài 21: KHẢO SÁT GIÁ TRỊ NGƯỠNG MỘT SỐ DẤU ẤN UNG THƯ TRONG HUYẾT THANH NGƯỜI VIỆT NAM ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN K - HÀ NỘI

    Trần Văn Khôi, Nguyễn Thị Hòa,

    Đỗ Thị An Châu, Trần Thị Hương, Nguyễn Thị Thơm

    Ung thư là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới, chẩn đoán, phát hiện bệnh ung thư sớm là vô cùng quan trọng để điều trị bệnh, định lượng dấu ấn ung thư đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, theo dõi và điều trị người bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định giá trị ngưỡng (cut-of) các dấu ấn ung thư, ngưỡng ranh giới để chẩn đoán người bình thường và người bệnh lý. Nghiên cứu nhằm xác định giá trị ngưỡng dấu ấn ung thư AFP, CEA, CA 15-3 với các bệnh ung thư liên quan, ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG), ung thư trực tràng (UTTT), ung thư vú (UTV).