Trang chủ >> Nội san

Tổng hợp báo cáo tóm tắt các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2016-2017

  • ĐỀ TÀI 1:

    NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH BÀO CHẾ VÀ TIÊU CHUẨN HÓA CỐM SINH HÓA TAN

    PGS.Ts. Tạ Văn Bình1,Ts. Thái Thị Hoàng Oanh2, Ts. Nguyễn Văn Phúc2, Ths.Vũ Thị Minh Hiền1, Ths.Hoàng Đức Huy3

    1.Trường cao đẳng Y tế Hà Nội, 2.Trường đại học Y Hà Nội,3.Công ty Đông dược Đức Hoàng

     “Sinh hóa thang” là một bài thuốc cổ phương có tác dụng hoạt huyết, giảm đau, sinh huyết thường được dùng cho phụ nữ sau sinh, sau nạo hút thai cho thấy hiệu quả cao. Tuy nhiên, hạn chế của bài thuốc là dùng dưới dạng thang nên mất nhiều thời gian sắc thuốc. Để hiện đại hóa y học cổ truyền và thuận tiện cho sản phụ khi sử dụng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu bào chế dạng thuốc cốm tan, tiện sử dụng hơn, dễ uống hơn.

    Kết quả nghiên cứu đã đưa ra quy trình bào chế cốm từ bài thuốc cổ phương kết hợp tá dược Lactose. Bước đầu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho cốm Sinh hóa tan dựa trên yêu cầu của DĐVN IV. Kiểm nghiệm tại Trung tâm kiểm nghiệm Hà Nội cho kết quả cốm đạt được đầy đủ các yêu cầu của TCCS.

     

    ĐỀ TÀI 2:

    NGHIÊN CỨU NUÔI CẤY ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO (Cordyceps militaris) TRÊN GIÁ THỂ SÂU CHÍT VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

    Tạ Văn Bình1, Nguyễn Ngọc Xuân2, Lê Thị Hải Yến1

    Hoàng Đức Huế2, Đỗ Thị An Châu1

    1Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, 2 Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây

     

    Đề tài đã xây dựng được quy trình nuôi cấy Đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris ở nhiệt độ 20 – 22oC, độ ẩm 91-95% cho thấy sản phẩm có chiều dài quả thể khi thu hoạch: 48,58 ± 0,42 mm (RSD = 0,86%); năng suất quả thể: 24,75  ± 1,36% (RSD = 5,49%); Hàm lượng Adenosin: 1,148 ± 0,019 mg/g (RSD = 1,66%); tỷ lệ lọ đạt 100% (không có lọ mẫu nào bị hỏng).

           Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm Đông trùng hạ thảo với các tiêu chí: mô tả, mất khối lượng do làm khô, định tính, định lượng, đóng gói.

     

    ĐỀ TÀI 3:

    ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XẠ TRỊ UNG THƯ PHỔI

    SỬ DỤNG KỸ THUẬT 3D-CRT BẰNG MÁY GIA TỐC TUYẾN TÍNH

    TẠI BỆNH VIỆN K TRUNG ƯƠNG

    Cao Văn Chính, Nguyễn Văn Long, Hoàng Anh Lân,

    Trần Thị Minh Hậu, Thành Thị Bích Chi.

    Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của xạ trị UTP KTBN sử dụng kỹ thuật 3D-CRT bằng máy gia tốc tuyến tính tại bệnh viện K trên 50 bệnh nhân có chỉ định xạ trị đơn thuần triệt căn từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017. Tổng liều 60Gy. Kết quả: Có 64% bệnh nhân có đáp ứng khách quan theo tiêu chuẩn RECIST phiên bản 1.0. Các độc tính huyết học thường gặp ở mọi độ 1, độ 2  là giảm huyết sắc tố (32%), giảm bạch cầu (24%). Độc tính tăng men gan chiếm 50%. Các độc tính ngoài huyết học thường gặp ở mọi độ gồm viêm thực quản (82%) và ho/khó thở (74%). Không gặp độc tính nặng (độ 3 và độ 4).

    Kết quả tỷ lệ đáp ứng và độc tính là chấp nhận được. Điều này cho thấy khả năng áp dụng xạ trị đơn thuần triệt căn ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn dưới III tại các cơ sở y tế là có hiệu quả.

     

    ĐỀ TÀI 4:

    ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE XỬ TRÍ SỐT CHO NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHI DƯỚI 5 TUỔI ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỐNG ĐA NĂM 2016 – 2017

    Phan Thùy Dương, Đặng Hương Giang, Hoàng Lan Hương,

    Nguyễn Lê Thủy, Quản Thị Ngát

    Sốt là một triệu chứng thường gặp ở trẻ em, sự hiểu biết và thực hành xử trí sốt của người chăm sóc trẻ là rất quan trọng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: đánh giá kiến thức và thực hành xử trí sốt của người chăm sóc trẻ và đánh giá hiệu quả tư vấn giáo dục sức khỏe lên kiến thức và thực hành xử trí sốt của người chăm sóc trẻ. Phương pháp: nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng, đánh giá kiến thức và thực hành của 206 người chăm sóc bệnh nhi dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đống Đa trước và sau can thiệp.

    Kết quả: trước can thiệp, tỉ lệ người chăm sóc trẻ có kiến thức ở mức đạt ở cả hai nhóm thấp (1,9%), thực hành ở mức đạt thấp (nhóm chứng 19,4%, nhóm can thiệp 13,6%), sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Sau can thiệp, ở nhóm chứng tỉ lệ người chăm sóc có kiến thức đạt ở nhóm chứng tăng từ 1,9% lên 4,9%, thực hành đạt tăng từ 19,4% lên 29,1%, sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05), ở nhóm can thiệp tỉ lệ này tăng lên lần lượt từ 1,9% lên 60,2%, 13,6% lên 76,7%, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,01. So sánh các tỉ lệ này giữa 2 nhóm sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p<0,01.

     

    ĐỀ TÀI 5:

    THỰC TRẠNG NGƯỜI MẮC TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỨC GIANG, HÀ NỘI NĂM 2016 VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP DỰ PHÒNG

                                                                               Đinh Quốc Khánh

             Mục tiêu: Xác định tỷ lệ người hiện mắc, phân tích một số yếu tố liên quan đến mắc tiền đái tháo đường, bệnh đái tháo đường tại Công ty Cổ phần May Đức Giang, Hà Nội năm 2016 và đề xuất giải pháp dự phòng.

    Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: với 1261 người hiện đang làm việc tại Công ty Cổ phần may Đức Giang được chọn vào tham gia nghiên cứu, với thiết kế nghiên cứu cắt ngang.

    Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở người lao động tại Công ty Cổ phần May Đức Giang, Hà Nội chiếm 1,2% và tiền đái tháo đường chiếm 12,6%. Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ và bệnh ĐTĐ ở nhóm ≤40 cao hơn nhóm >40 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra được nhóm lao động thường xuyên làm thêm giờ ở mức >16,7 giờ/tháng có nguy cơ mắc tiền ĐTĐ cao gấp 7 lần so với nhóm làm thấp hơn mức giờ này (p<0,05).

    Khuyến nghị chính của nghiên cứu là cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường trên đối tượng là công nhân, đặc biệt là công nhân có làm thêm giờ.

     

               

    ĐỀ TÀI 6:

    NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THUỐC GIẢM GLUCOSE MÁU TRỘN LẪN TRONG CÁC CHẾ PHẨM ĐÔNG DƯỢC BẰNG SẮC KÝ LỚP MỎNG HIỆU NĂNG CAO

    Ths. Ma Thị Hồng Nga, Ds. Nguyễn Thị Lan Anh, Ths. Nghiêm Thị Minh,

    Ths. Trần Vũ Hoàng Anh – Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội;
    ThS. Đào Thị Cẩm Minh
    – Học viên NCS – Trường Đại học Dược Hà Nội.

     

    Nghiên cứu nhằm xây dựng qui trình định tính, định lượng glibenclamid, gliclazid, glimepirid, glipizid trộn lẫn trong các chế phẩm đông dược bằng HPTLC. Bằng cách tham khảo các thành phần dược liệu thường có trong các chế phẩm đông dược trên thị trường, xây dựng công thức nền mẫu trắng. Tiến hành khảo sát dung môi xử lý mẫu, hệ dung môi pha động. Methanol được chọn là dung môi chiết. Đồng thời các điều kiện sắc kí cũng được đưa ra trong đó pha động 5% acid formic trong n-butyl acetat; bước sóng phát hiện 254 nm; bước sóng quét phổ để định lượng 235 nm. Phương pháp được thẩm định theo tiêu chuẩn của AOAC trong đó giới hạn phát hiện (LOD) đối với glipizid là 96 ng/vết, glimepirid là 192 ng/vết, glibenclamid là 192 ng/vết, gliclazid là 480 ng/vết. Ứng dụng phương pháp đã xây dựng phân tích 40 mẫu đông dược điều trị và hỗ trợ điều trị tiểu đường thu thập trên thị trường trong đó có 23 mẫu có số đăng kí, 17 mẫu không có số đăng kí. Kết quả không phát hiện thấy có glipizid, glimepirid, gliclazid. Phát hiện có 8 mẫu có chứa glibenclamid chứa từ 0,75 mg/liều tới 2,21mg/liều.

     

    ĐỀ TÀI 7:

    XÁC ĐỊNH TỶ LỆ VÀ TÍNH NHẠY CẢM VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN KỴ KHÍ GÂY NHIỄM KHUẨN SAU PHẪU THUẬT HỆ TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC, NĂM 2016 - 2017

    Hà Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Thanh Huyền,

    Bùi Huy Tùng, Nguyễn Thanh thủy

    Mục tiêu:  Xác định tỷ lệ và tính nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn kỵ khí gây nhiễm khuẩn sau phẫu thuật hệ tiêu hóa tại bệnh viện Việt Đức, năm 2016-2017

    Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

    Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ Bacteroid spp phân lập được chiếm đa số là 94,8% (trong đó B.  fragilis chiểm 78,3%)  Fusobacterium 5,2%. Tỷ lệ nhạy cảm với kháng sinh của bacteroid spp  với Piperacillin - Tazobactam là 90,8%, sau đến imipenem (80,7%), Chloramphenicol (78,9%), Doxycllin (58,7%), Metronidazon (32,1%) và Clindamycin là 16,5%.

    Mức độ kháng với Metronidazon là 67,9%; trong đó MIC kháng chủ yếu > 32 µg/ml. Mức độ kháng với Imipenem là 19,3%; MIC nhạy cảm chủ yếu ở > 1 µg/ml.

    Kết luận: Tỷ lệ nhạy cảm của bacteroid spp với metronidazon là 32,1%.

     

    ĐỀ TÀI 8:

    TỔNG HỢP VÀ THĂM DÒ HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM, KHÁNG KHUẨN CỦA DẪN XUẤT THIOPHEN CHỨA DỊ VÒNG 1,2,4-TRIAZOL VÀ 2-THIOXO-THIAZOLIDIN-4-ONE

    Nguyễn Thị Nga, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Ngọc Linh

    Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Minh Huệ

                Từ acid 3-thiophen axetic qua ba bước để tổng hợp ra hai dẫn xuất chứa dị vòng 1,2,4-triazol và 2-thioxo-1,3-thiazolidine-4-one. Cấu trúc của các dẫn xuất đã tổng hợp được xác định dựa vào phổ IR, 1H-NMR và 13C-NMR.  Hai dẫn xuất  tổng hợp được có khả năng ức chế vi khuẩn Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis  tại nồng độ tối thiểu 256 mg/ml.
     

    ĐỀ TÀI 9:

    THỰC TRẠNG XUỐNG SỮA VÀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA SẢN PHỤ SAU ĐẺ MỔ TẠI KHOA SẢN, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG

    NĂM 2016- 2017

    Nguyễn Thanh Phong, Hoàng Thu Hương, Trần Mai Huyên,

    Mã Thị Hồng Liên, Lê Tùng Lâm

     

    Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Thời điểm xuống sữa, đặc điểm của vú, tính chất của sữa ở sản phụ đẻ mổ có thể ảnh hưởng đến quyết định cho trẻ bú sớm và nuôi con bằng sữa mẹ.

    Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập các chỉ số nghiên cứu về thực trạng xuống sữa; nuôi con bằng sữa mẹ và các yếu tố liên quan theo mẫu phiếu của 220 sản phụ sau đẻ mổ tại khoa Sản- bệnh viện đa khoa Đức Giang từ 09/2016 đến 04/2017.

    Kết quả: có 39,5% sản phụ xuống sữa sau mổ lấy thai 02 ngày; thời gian xuống sữa trung bình là 3,03 ± 1,09 ngày; 4,5% sản phụ có tình trạng cương vú; 26,4% sản phụ cho trẻ bú trong vòng 1 giờ từ khi trẻ về với mẹ; 31,3% sản phụ cho bú thường xuyên; 67,7% sản phụ cho con ăn thêm sữa ngoài. 4 yếu tố liên quan chính đến tình trạng xuống sữa là cho trẻ bú trong vòng 1 giờ từ khi trẻ về với mẹ; cho trẻ bú đêm; tinh thần sau mổ vui vẻ; được tư vấn bởi những nhân viên y tế.

    Kết luận: Thời gian xuống sữa trung bình của sản phụ sau đẻ mổ là 3,03 ± 1,09 ngày, 26,4% sản phụ cho trẻ bú trong vòng 1 giờ từ khi trẻ về với mẹ; 67,7% sản phụ cho con ăn thêm sữa ngoài; liên quan chính đến 04 yếu tố cho trẻ bú trong vòng 1 giờ từ khi trẻ về với mẹ; cho trẻ bú đêm; tinh thần vui vẻ; được tư vấn bởi những nhân viên y tế.

     

    ĐỀ TÀI 10:

    GIÁ TRỊ CỦA HÓA MÔ MIỄN DỊCH TRONG PHÁT HIỆN TẾ BÀO STELLATE TRÊN MÔ GAN BỆNH NHÂN VIÊM GAN MẠN

    Nguyễn Hồng Phúc, Đặng Trần Tiến, Bùi Thu Hằng,

    Nguyễn Hồng Nhung, Nguyễn Trọng Tấn.

              Nghiên cứu được tiến hành trên mẫu mô gan của 30 bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan mạn do tiếp xúc với TNT với mục đích phát hiện sự có mặt của tế bào Stellate ở gan. Các mẫu mô gan được nhuộm bằng Hematoxylin & Eosin (HE) và bằng hóa mô miễn dịch với hai kháng thể là desmin và α smooth mucsle actin (α – SMA). Kết quả cho thấy phương pháp nhuộm HE không xác định được tế bào Stellate ở cả 30 mẫu mô gan. Tỷ lệ phát hiện được tế bào Stellate bằng hóa mô miễn dịch là 3.3% đối với desmin và 26.7% đối với α – SMA.

     

    ĐỀ TÀI 11:

    NGHIÊN CỨU ĐỘT BIẾN GEN EGFR TRONG BỆNH

    U NGUYÊN BÀO THẦN KINH ĐỆM

    Nguyễn Thị Thơm, Phùng Thị Phương Chiêm, Trần Văn Khôi,

      Nguyễn Thị Dung, Dương Thị Thu Liễu

     U nguyên bào thần kinh đệm (GB) là loại u ác tính trong não, tiến triển rất nhanh, điều trị ít hiệu quả, bệnh nhân mắc GB thường tử vong sau phẫu thuật khoảng 6 tháng đến 1 năm, nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh chưa được xác định rõ. Nhằm xác định liên quan đột biến gen EGFR với bệnh u nguyên bào thần kinh đệm, chúng tôi thực hiện đề tài với

    Mục tiêu: Xác định tình trạng đột biến exon 2, 7, 8 gen EGFR trong bệnh u nguyên bào thần kinh đệm.

    Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 30 mẫu mô u nguyên bào thần kinh đệm lấy tại khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt Đức, sử dụng kỹ thuật PCR và giải trình tự gen trực tiếp bằng máy tự động để xác định đột biến các exon 2, 7, 8 gen EGFR.

    Kết quả: 6/30 mẫu u nguyên bào thần kinh đệm (tỉ lệ 20%) có đột biến điểm trên exon 2 và 7 gen EGFR; trong số các đột biến 33,3% mang đột biến kiểu p. G42D và 22,2% mang đột biến kiểu p. A289T.

    Kết luận: Bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự gen trực tiếp đã phát hiện được đột biến trên exon 2,7 gen EGFR trong bệnh u nguyên bào thần kinh đệm với tỉ lệ là 20% (6/30 mẫu); trong số các đột biến 33,3% mang đột biến kiểu p. G42D và 22,2% mang đột biến kiểu p. A289T, chưa thấy có đột biến trên exon 8 gen EGFR. Xác định được đột biến có thể giúp bác sỹ tiên lượng bệnh và định hướng điều trị tốt hơn cho người bệnh.

     

    ĐỀ TÀI 12:

    NGHIÊN CƯÚ  ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ

    MỘT SỐ YẾU TỐ PHÂN TỬ  TIÊN LƯỢNG CỦA UNG THƯ HẠ HỌNG

    TẠI TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

    Nguyễn Như Ước và cộng sự

    Nghiên cứu hồi cứu 45 bệnh nhân  có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư hạ họng được điều trị tại Khoa B1- Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương từ 1/2012 đến 12/2013, nhuộm hóa mô miễn dịch các dấu ấn p53, Ki67 và EGFR theo phương pháp ABC với các kit của Dako. Kết quả: Biểu hiện triệu chứng nuốt vướng/nuốt đau có 15 trường hợp (33,3%). Gặp 13 trường hợp nuốt vướng/khàn tiếng (28,9%). Nuốt vướng 10 trường hợp (22,2%). Nuốt vướng/khó thở có 4 trường hợp (8,9%). U khu trú ở xoang lê và ở xoang lê/ thanh quản là nhiều nhất (28,9% và 31,1% tương ứng). Tổn thương dạng sùi là chủ yếu (42,2%). Typ ung thư biểu mô vảy chiếm nhiều nhất (93,4%). Tỷ lệ p53 dương tính chiếm 75,6%, trong đó dương tính mạnh chiếm 42,3%, tỷ lệ Ki67 dương tính 100%, trong đó dương tính mạnh chiếm 71,1% và tỷ lệ EGFR dương tính chiếm 71,1%, trong đó dương tính mạnh chiếm 53,3%.

     

    ĐỀ TÀI 13:

    NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM, GIẢM ĐAU CỦA CAO LỎNG CHIẾT TỪ CÂY AN XOA (Helicteres hirsuta Lour.) TRÊN CHUỘT NHẮT THỰC NGHIỆM

                                                              Lê Thị Hải Yến1; Nguyễn Thị Thanh Hà2;

    Nguyễn Thị Nga1; Tạ Văn Bình1; Thái Thị Hoàng Oanh2

    1 Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

    2 Trường Đại học Y Hà Nội

    Nghiên cứu xác định được cao lỏng từ dịch chiết nước toàn phần cây An xoa (Helicteres hirsuta Lour.) có tác dụng giảm đau ở liều 24g/kg trên mô hình mâm nóng và máy đo ngưỡng đau ở chuột nhắt trắng. Tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột cũng thể hiện rõ ở các thời điểm sau gây viêm 2h và 4h với liều 72g/kg.

     

    ĐỀ TÀI 14:

    THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI Y TẾ VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP TRÊN SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG KHÓA 10 TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI THỰC TẬP TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN, NĂM HỌC 2016 -2017

    Đoàn Thị Vân; Ngô Đăng Ngự; Phạm Thu Hà;

    Nguyễn Thị Hà; Đinh Thị Quỳnh

              Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá kiến thức, thực hành sinh viên về phân loại chất thải y tế và tìm ra một số yếu tố coa thể liên quan. qua đó xác định được nội dung có thể yêu tiên can thiệp. Sau đó đánh giá lại kiến thức sau 3 tháng can thiệp tại bệnh viện. Số liệu được thu thập trên bộ câu hỏi và phiếu quan sát đánh giá thực hành. Số liệu được nhập và sử lý bằng phần mềm SPSS 17.0. Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ thực hành tốt về phân loại chất thải y tế chiếm 53,6%, sự yêu nghề là yếu tố có liên quan đến kiến thức, thực hành tốt của sinh viên. Sau can thiệp, tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt về phân loại chất thải y tế tăng từ 71,6% lên đến 93,2%, tỷ lệ sinh viên có thực hành đạt về phân loại chất thải y tế tăng từ 53,6% đến 91,6%.