Trang chủ >> Nội san

Tổng hợp báo cáo tóm tắt của 16 đề tài NCKH năm học 2014-2015

  • NGHIÊN CỨU ĐỘT BIẾN GEN TP53 TRÊN BỆNH NHÂN
    U NGUYÊN BÀO THẦN KINH ĐỆM (GLIOBLASTOMA)
    Trần Văn Khôi; Nguyễn Thị Thơm;
    Nguyễn Thị Nga; Phùng Thị Phương Chiêm
     

    Tóm tắt: U nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma-GB) là một trong các khối u não, Theo (WHO) phân loại Glioblastoma như một u tế bào hình sao (Astrocytoma) cấp IV với độ ác tính cao nhất. Gen TP53 là gen ức chế khối u có 11 exon trong đó exon 2-11 mã hoá protein dài 393 acid amin, các nghiên cứu trước đây thấy rằng bệnh nhân GB có tỉ lệ đột biến gen TP53 cao xấp xỉ 40%, đa số đột biến thường gặp trong vùng exon 5-8 từ 126 đến 306 acid amin. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các kiểu đột biến gen TP 53 và bước đầu xây dựng quy trình kỹ thuật xác định đột biến gen TP53 trên bệnh nhân GB.

     

    Từ khóa: U nguyên bào thần kinh đệm; Glioblastoma; Gen TP53

     
     
     
     
     

    KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP KÈM SUY THẬN MẠN TẠI KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ NĂM 2014

    Phan Thị Thanh Tâm; Hoàng Thị Minh Hiền; Trần Thị Nhị Hà;

    Nguyễn Văn Hưng; Hoàng Thị Nguyệt Phương
     

    Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh – bệnh viện Hữu Nghị năm 2014 và phân tích hiệu quả sử dụng thuốc sau 3 tháng và 6 tháng điều trị liên tục.

    Kết quả: Qua khảo sát 140 bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014 được chẩn đoán xác định là THA có kèm suy thận mạn. Kết quả cho thấy :

    Về đặc điểm mẫu nghiên cứu: Tuổi trung bình của tất cả các bệnh nhân là 63,84 ± 8,76 năm, tỷ lệ nam nhiều gấp 3,83 lần nữ.Tại thời điểm khảo sát, có 87 bệnh nhân đã được điều trị ( nhóm 1) và có HA được kiểm soát (87,3% bệnh nhân đạt HA mục tiêu và HA bình thường cao ). Còn nhóm chưa được điều trị hay điều trị gián đoạn (nhóm 2) phần lớn là tăng HA độ 2 (60,4%) và THA độ 3 (24,5%).Các bệnh nhân đều có mức độ suy thận độ 3.

    Về sử dụng thuốc:Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin và thuốc chẹn kênh calci là hai nhóm thuốc được dùng phổ biến nhất. Có 69,3% bệnh nhân phải thay đổi phác đồ điều trị trong đó 52,1% phải thay 1 lần và 17,2 % là phải thay phác đồ 2 lần. Có 96,4% bệnh nhân phải sử dụng phác đồ phối hợp thuốc, cặp phối hợp thường gặp là chẹn thụ thể Angiotensin và chẹn kênh calci nhóm dihydropyridin sau đó đến chẹn thụ thể Angiotensin phối hợp với lợi tiểu.

    Về hiệu quả điều trị: Sau 6 tháng theo dõi không còn bệnh nhân THA độ 2 và độ 3 chỉ còn 11,3% bệnh nhân THA độ 1. HA bình thường/bình thường cao (< 140/90mmHg) đạt được ở 88,7 % và huyết áp mục tiêu (<130/80 mmHg) chỉ đạt ở 43,6 %.Kết quả điều trị trên thận rất khả quan 104 bệnh nhân tăng độ thanh thải creatinin, trong đó có 43,5% bệnh nhân chuyển sang giai đoạn tổn thương thận nhẹ hơn và 1,4% BN chuyển sang giai đoạn tổn thương thận nặng hơn.

    Tỷ lệ bệnh nhân gặp phải tác dụng không mong muốn rất nhỏ (5,7%).

    Kết luận: Việc kiểm soát HA trên bệnh nhân suy thận cần được quản lý tốt, có đến 96,4% bệnh nhân phải sử dụng phác đồ phối hợp thuốc, đặc biệt phối hợp 2 thuốc là chẹn thụ thể Angiotensin và chẹn kênh calci nhóm dihydropyridin. Sau 6 tháng theo dõi điều trị kết quả kiểm soát bệnh nhân tăng huyết áp rất tốt không còn bệnh nhân THA độ 2 và độ 3 và kết quả điều trị trên thận rất có ý nghĩa có đến 104 bệnh nhân tăng độ thanh thải creatinin.

     

    Từ khóa: sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp; suy thận mạn.

     
     
     
     

    ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI

    TẠI BỆNH VIỆN XANH PÔN NĂM 2014


    Nguyễn Minh An;Hoàng Thanh Thước;
    Nguyễn Thu Hồng; Nguyễn Thị Thu Trang; Vũ Thị Thanh Tâm

    Cho đến nay, cắt nội soi tuyến tiền liệt qua ngả niệu đạo vẫn được coi là chuẩn vàng trong điều trị ngoại khoa các rối loạn tiểu tiện do U phì đại lành tính tuyến tiền liệt gây ra. Đã có nhiều nghiên cứu về kết quả chung điều trị U phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng cắt nội soi, nhưng một nghiên cứu riêng về kết quả cải thiện triệu chứng và tai biến, biến chứng của phẫu thuật, nguy cơ can thiệp lại trên nhóm bệnh nhân phẫu thuật đó lại chưa có.

    Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá sự cải tiện triệu chứng chủ quan sau phẫu thuật nội soi điều trị U phì đại lành tính tuyến tiền liệt.Đánh giá tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật nội soi điều trị U phì đại lành tính tuyến tiền liệt.

      

    Kết quả: Từ kết quả nghiên cứu 92 bệnh nhân u phì đại lành tính tuyến tiền liệt được điều trị bằng kỹ thuật cắt đốt nội soi tại khoa phẫu thuật tiết niệu bệnh viện Xanh pôn, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Thời gian phẫu thuật trung bình 77,2 ± 15,5 phút. Tỷ lệ tai biến trong mổ có 7/92 bệnh nhân (chiếm 7,6%), trong đó có 04 bệnh nhân chảy máu lớn trong phẫu thuật (chiếm 4,3%). Tỷ lệ biến chứng sau mổ 11/92 bệnh nhân (chiếm 12,0%). IPSS trung bình sau mổ 1 tháng và 3 tháng lần lượt là: 2,6 ± 0,8; 1,9 ± 1,2. Kết quả sau mổ: Tốt 80/92 bệnh nhân (chiếm 86,9%), trung bình 9/92 bệnh nhân (chiếm 9,8%), xấu 3/92 bệnh nhân (chiếm 3,3%)

    Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị U phì đại lành tính tuyến tiền liệt là phẫu thuật an toàn, hiệu quả, các triệu chứng chủ quan cải thiện tốt sau phẫu thuật.

     

    Từ khóa: U phì đại lành tính tuyến tiền liệt, cắt đốt nọi soi.

     
     
     
     
     

    KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI VỀ XỬ TRÍ TIÊU CHẢY CẤP Ở TRẺ EM TẠI TRẠM XÁ XÃ TÂN DÂN, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI, NĂM 2015

    Đoàn Thị Vân; Ngô Đăng Ngự; Nguyễn Thị Hà;

     Nguyễn Thị Quỳnh; Phương Văn Hoàng

     

    Kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về xử trí trẻ tiêu chảy của các bà mẹ là vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của trẻ. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả , thiết kế cắt ngang với 2 mục tiêu xác định tỉ lệ bà mẹ có KAP đúng về tiêu chảy ở trẻ và mối liên quan giữa KAP với các đặc điểm nhân khẩu-xã hội học của bà mẹ.

     Kết quả đã chỉ ra tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng là rất thấp chỉ có 36,8%, tỷ lệ bà mẹ có thái độ đúng rất thấp chiếm 35,8%, Tỉ lệ bà mẹ có thực hành đúng là rất thấp chiếm 24,2%.Có sự ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê  nguồn cung cấp thông tin có ảnh hưởng tới kiến thức, thái độ và thực hành đúng của bà mẹ.

     

    Từ khóa: tiêu chảy cấp; trẻ em dưới 5 tuổi.

     
     
     
     
     
     
     

    XÁC ĐỊNH TỶ LỆ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ

    TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC, NĂM 2014 – 2015
    Hà Thị Nguyệt Minh và cộng sự
     

    Xác định tỷ lệ kháng kháng sinh từ 139 chủng vi khuẩn phân lập được từ 111 bệnh nhân nhiễm khuẩn vết mổ tại khoa Vi sinh, Bệnh viện Việt Đức trong 6 tháng (từ tháng 11/2014 đến 4/2015), cho kết quả phân lập được 12 loại vi khuẩn trong đó chủ yếu là : acinetobacter là 16,6%, E. coliP. aeruginosa cùng là 15,9%, E. faecalis là 14,3%, klebsiella 13,7%, Enterobacter 4,3% và S. aureus là 5,8%.

    Tỷ lệ kháng của S. aurreus MRSA là 37,5%, erythromycin 75%, tetracyclin 62,5%, ciprofloxacin và cefuroxim 50%, getamycin 37,5%, trong nghiên cứu của chúng tôi vancomycin vẫn là kháng sinh nhạy cảm.

    Tỷ lệ kháng của faecalis với erythromycin 80%, tetracyclin là 40%, ciprofloxacin là 35%, cefuroxim 40%, vancomycin nhạy cảm 100% .

    Tỷ lệ kháng của Acinetobacter với cefuroxim 47,8%, amikacin 39,2%, ciprofloxacin là 34,8%, imipenem là 30,5%, ticarcillin + a.clavulanic 17,4% .

    Tỷ lệ kháng của E.coli với cefuroxim, amikacin 63,6%, ciprofloxacin 40,9%, cefepim 27.3%, ticarcillin + a.clavulanic 18,2%, imipenem là 13,6% .

    Tỷ lệ kháng của P. aeruginosa vớicefuroxim 72,7%; amikacin 63,6%, ciprofloxacin 45,4%, ticarcillin + a.clavulanic 27,3%, imipenem 18,2%.

    Tỷ lệ kháng của Klebsiella với cefuroxim 63,2%; amikacin 52,6%, ciprofloxacin 41,2%, imipenem là 15,7% và ticarcillin + a.clavulanic 15,7%.

     

    Từ khóa: kháng kháng sinh; nhiễm khuẩn vết mổ.

     
     
     
     
     
     

    MÔ TẢ THỰC TRẠNG HỌC TẬP HỌC PHẦN ĐIỀU DƯỠNG CƠ SỞ 2

    CỦA HỌC SINH ĐIỀU DƯỠNG TRUNG CẤP KHÓA 46
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI, NĂM 2014

    Nguyễn Thanh Thủy; Khúc Thị Hồng Anh; Lê Thị Thủy;

    Phạm Thu Hà; Nguyễn Minh Phương
     

    Học phần Điều dưỡng cơ sở 2 là học phần bắt buộc đối với học sinh của trường Cao đẳng Y tế Hà Nội nói riêng, các trường đào tạo Điều dưỡng nói chung. Học phần này cung cấp cho các em học sinh về kiến thức, thái độ, kỹ năng trước khi đi lâm sàng đồng thời theo suốt các em trong những năm hành nghề. Nghiên cứu được tiến hành tại trường CĐYTHN, năm 2014 nhằm mô tả thực trạng học tập học phần ĐDCS2 của học sinh điều dưỡng trung cấp khóa 46 và mô tả một số yếu tố liên quan đến kết quả học tập học phần ĐDCS2. Áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 272 học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 62,5% học sinh tích cực học học phần ĐDCS2, HS đạt loại giỏi chiếm tỷ lệ thấp (2,6%), chủ yếu đạt loại khá 42,3%, vẫn còn 5,1% HS đạt loại yếu kém. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc giới tính, tích cực học học phần ĐDCS2, thời gian học tại nhà, số lần thực hành kỹ năng trong mỗi buổi thực tập, lý do học sinh vào trường, thời gian thực tập tại bộ môn, Projector với kết quả học phần ĐDCS2.

     

    Từ khóa: Học phần Điều dưỡng cơ sở 2; học sinh điều dưỡng; Cao đẳng Y tế Hà Nội.

     
     

    HIỆU QUẢ CỦA CAN THIỆP TƯ VẤN TỪ XA

    CHO CHA MẸ TRẺ BỊ HEN TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN THANH TRÌ, HÀ NỘI NĂM 2015

                  Đặng Hương Giang; Hoàng Lan Hương;

                  Nguyễn Lê Thủy; Quản Thị Ngát; Phan Thùy Dương

                  Nghiên cứu này là nhằm đánh giá hiệu quả của tư vấn từ xa cho cha mẹ trẻ bị hen tại 2 trường tiểu học của huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2015. Đối tượng nghiên cứu là những trẻ đang mắc hen được phát hiện qua khảo sát bằng câu hỏi phỏng vấn của Nghiên cứu quốc tế về hen và các bệnh dị ứng ở trẻ em (ISAAC) và cha mẹ trẻ. Phương pháp nghiên cứu can thiệp tự đối chứng theo dõi dọc. Kết quả cho thấy: sau 6 tháng theo dõi tỉ lệ trẻ có triệu chứng ban ngày và ban đêm và tỉ lệ trẻ phải nghỉ học vì hen không giảm sau can thiệp nhưng kiến thức về bệnh hen của cha mẹ đã được nâng cao.

                  Kết luận: chương trình tư vấn từ xa bằng cách phát tài liệu và trao đổi thông tin qua điện thoại giữa cha mẹ và chuyên gia không có tác động đến triệu chứng của bệnh hen và tình trạng nghỉ học vì hen của trẻ nhưng giúp cải thiện được hiểu biết về bệnh hen của cha mẹ trẻ.

     

    Từ khoá: Trẻ mắc hen; Giáo dục sức khỏe; Hà Nội.

     
     
     

    ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG,KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DINH DƯỠNG CỦA NỮ SINH NĂM THỨ NHẤT, TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015

                                    Nguyễn Thị Hiếu; Bùi Văn Dũng;

     Nguyễn Khánh Chi; Nguyễn Hải Yến; Bùi Thu Hằng

    Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang, nghiên cứu tiến hành với mục tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI và kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của nữ sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng y tế Hà Nội năm 2015.

    Kết quả cho thấy: Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED) khá cao (36,7%), trong đó, tỷ lệ CED độ I là 79,4%; CED độ II: 14,5%; CED độ III: 6,1%. Tỷ lệ nữ sinh thừa cân/béo phì ở mức độ thấp 2,2 % theo thang phân loại của WHO và ở mức độ nhẹ. Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức về dinh dưỡng ở mức độ tốt là 52,7 %; trung bình 43,7 %; kém 3,6%. Tỷ lệ nữ sinh có thực hành về dinh dưỡng ở mức độ tốt là 30,0 %; trung bình 60,5%; kém 9,5 %. Nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành về dinh dưỡng cho các nữ sinh viên.

     
    Từ khóa: thực hành dinh dưỡng; nữ sinh viên.
     
     
     
     

    KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA PHƠI NHIỄM NGHỀ NGHIỆP DO KIM TIÊM TRUYỀN CỦA HỌC SINH/SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI NĂM 2014 -2015

    Nguyễn Thị Hoàng Thu; Phạm Thiều Hoa; Nguyễn Thúy Anh;

                                                                       Trần Thị Hương; Hoàng Minh Phương

     

    Đặt vấn đề: Nhân viên y tế (NVYT), đặc biệt là điều dưỡng có nguy cơ cao bị phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường máu do bị kim tiêm truyền đâm. Tuy nhiên, nhiều NC cho thấy tỷ lệ sinh viên điều dưỡng (SVĐD) tổn thương do kim và vật sắc nhọn (VSN) cao, kiến thức và thực hành phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp (PNNN) do VSN còn thấp.

    Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, quan sát và phỏng vấn toàn bộ HS/SV đi lâm sàng khoa Nội ở bệnh viện từ tháng 12/2014 đến tháng 3/2015.

         Kết quả: từ tháng 12/2014 đến tháng 3/2015, tổng số đối tượng nghiên cứu là 298 HS/SV điều dưỡng, trong đó tỷ lệ HS/SV trả lời đúng ≥70% nội dung kiến thức phòng ngừa PNNN do kim tiêm truyền là 36,91%, trả lời đúng từ 50 - 70% nội dung là 46,62%, trả lời đúng từ < 50% nội dung là 20,47%. Kiến thức của HS/SV về YT liên quan đến TTNN do kim tiêm truyền đâm, thời điểm và thao tác có thể xảy ra TTNN do kim tiêm truyền đâm còn thấp(69,46%, 45,62% và 69,8%).Tỷ lệ HS/SV thực hành phòng ngừa PNNN đạt là 79,53%. Các thao tác phòng ngừa PNNN khi tiêm truyền HS/SV thực hiện chưa tốt là dùng gạc/gòn để bẻ ống thuốc/nước cất (30,9%), không đậy nắp kim tiêm (34,56%), giải thích hướng dẫn NB về kỹ thuật và tư thế tiêm (35,23%). Có có mối liên quan giữa TH với thời gian tham gia TH lâm sàng, kiến thức (p<0,001).

               Kết luận: Trang bị kiến thức về các nguy cơ cũng như các biện pháp dự phòng PNNN ngay khi bắt đầu đi thực hành lâm sàng và nhắc lại liên tục trong suốt quá trình học tập; tăng cường đào tạo các thao tác phòng chống PNNN do kim tiêm truyền đâm cho HS/SV tại các phòng thực tập ĐDCB cũng như trong môi trường lâm sàng là các biện pháp quan trọng giúp HS/SV phòng ngừa PNNN ndo các vật sắc nhọn, đảm bảo an toàn cho HS/SV, người bệnh và nhân viên y tế.

     
    Từ khóa: phơi nhiễm nghề nghiệp; kim tiêm truyền.
     
     
     
     
     

    NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN IMRT BẰNG HỆ COLLIMATOR JAW ONLY CHO BỆNH NHÂN MẮC UNG THƯ TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN K TRUNG ƯƠNG NĂM 2014 – 2015

    Cao Văn Chính;Mai Thị Minh Nghĩa; Tiên Thị Nga;
    Nguyễn Hải Hằng; Trần Thị Minh Hậu
     

    Xạ trị điều biến liều lượng (cường độ) theo hình thái khối u - IMRT là một kỹ thuật hiện đại trong thực hành lâm sàng. Kỹ thuật IMRT đã được thừa nhận rộng rãi là có thể thực hiện trên những máy gia tốc được trang bị hệ thống collimatorr nhiều lá - MLC, tuy nhiên IMRT cũng có khả năng thực hiện với hệ thống collimnator với jaw chuyển động độc lập jaw - only. Theo cách này, hàng loạt các trường chiếu nhỏ, chữ nhật được hình thành từ mỗi hướng của chùm tia để tạo ra các mô hình liều lượng (cường độ) phức hợp. Tại bệnh viện K, chúng tôi đã tiến hành kỹ thuật IRMT trong điều trị một số loại ung thư thường gặp như ung thu vòm, ung thư vú, ung thư trực tràng… Nói chung, kết quả thực tế cho thấy cần khoảng từ 20-35 segment của JO DAO để có thể thực hiện được IMRT. Để khẳng định tính khả thi của IMRT bằng jaws-only và sự hợp lý của phân bố liều lượng tại thể tích bia (TV) cũng như liều lượng tại các tổ chức lành liền kề (OAR), chúng tôi đã tiến hành đo kiểm tra bằng máy DOSE-1 trên hệ thống phantom chuyên dụng RD/QTM2.

     

    Từ khóa: Xạ trị điều biến liều lượng; IMRT; ung thư trực tràng.

     
     
     
     
     
     
     

    NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM CẤP

    CỦA CAO LỎNG BMD TRÊN THỰC NGHIỆM

    Ma Thị Hồng Nga; Nguyễn Thị Hoa Hiên; Phạm Hương Lý;

     Nghiêm Thị Minh; Nguyễn Thị Hiền
     

    Cao lỏng BMD được bào chế từ 3 vị dược liệu hòe hoa, đương quy, diếp cá và được nghiên cứu tác dụng theo hướng điều trị bệnh trĩ. Dự kiến sẽ nghiên cứu tác dụng giảm đau, chống viêm, cầm máu, co mạch….của cao lỏng BMD. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm cấp của cao lỏng BMD.

    Bằng phương pháp thử tác dụng chống viêm cấp trên chuột cống trắng trên mô hình gây phù chân chuột bằng carragenin và mô hình gây viêm màng bụng bằng carrageenin và formaldehyd, đã xác định được: cao lỏng BMD có tác dụng chống viêm ở cả 2 mức liều dùng 1,0g/kg/ngày và 3,0g/kg/ngày, tác dụng chống viêm của cao lỏng BMD ở liều 3,0g/kg/ngàytương đương với aspirin liều 200mg/kg/ngày.

     

    Từ khóa: cao lỏng BMD; chống viêm cấp.

     
     
     

    NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM CẤP CỦA CAO ĐẶC LONG ĐỞM TRÊN THỰC NGHIỆM

    Lê Thị Hải Yến; Tạ Văn Bình; Vũ Thị Minh Hiền;

     Nguyễn Thị Quyên; Phạm Thị Hằng Nga

     

    Long đởm là dược liệu được dùng khá phổ biến trong điều trị các bệnh lý có viêm và các bệnh ngoài da. Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá tác dụng chống viêm của cao đặc Long đởm qua 2 mô hình là: mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin và mô hình gây tràn dịch màng bụng ở chuột cống trắng

    Kết quả cho thấy, cao đặc Long đởm (CĐLĐ) liều 16g/kg có tác dụng ức chế phù rõ tại thời điểm sau gây viêm 2h và 4h. CĐLĐ liều 16g/kg cũng cho thấy tác dụng chống viêm cấp tương tự aspirin liều 200mg/kg khi làm giảm hàm lượng protein, số lượng bạch cầu và thể tích dịch rỉ viêm trong mô hình gây tràn dịch màng bụng ở chuột cống trắng.

    Trong 2 mô hình nghiên cứu thì CĐLĐ liều 8g/kg cho thấy có xu hướng làm giảm viêm nhưng tác dụng không bằng CĐLĐ liều 16g/kg. Như vậy, có thể sử dụng CĐLĐ liều 16g/kg thay thế cho aspirin trong điều trị chống viêm để làm giảm các tác dụng không mong muốn.

     
    Từ khóa: Long đởm; chống viêm cấp
     
     

    XÁC ĐỊNH TỶ LỆ NHIỄM VÀ ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM VIRUS VIÊM GAN B CỦA HỌC SINH CÁC LỚP HỘ SINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI NĂM 2014

    Nguyễn Thị Việt Hà; Đinh Quốc Khánh; Nguyễn Thị Huệ;

                                                                   Lê Phương Thảo; Triệu Thị Thủy

     

    Học sinh, sinh viên nghành y nói chung (đặc biệt là chuyên nghành hộ sinh) luôn phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm bệnh do thường xuyên tiếp xúc với máu và những dịch tiết từ cơ thể người bệnh, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ nhiễm và đánh giá kiến thức về phòng lây nhiễm viêm gan virus B của học sinh các lớp hộ sinh trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2014. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 125 học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ½ ĐTNC có kết quả xét nghiệm dương tính với viêm gan B biết về tình trạng mắc viêm gan B của bản thân trước khi được xét nghiệm (3,2% so với 6,4%). ĐTNC có kiến thức phòng lây nhiễm đạt khá cao chiếm 72%, tuy nhiên ĐTNC năm thứ nhất có kiến thức không đạt cao cao gấp 3,3 lần so với nhóm năm thứ hai [OR = 3.31 (1.46- 7.51); χ2  = 8,598; p<0,05]. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức với với địa dư, tiền sử mắc bệnh, nghe nói về viêm gan B; giữa tỷ lệ HbsAg(+) với tiền sử phơi nhiễm vật sắc nhọn và tiền sử quan hệ tình dục.Vì vậy ĐTNC biết tình trạng nhiễm và có kiến thức phòng lây nhiễm virus VGB góp phần phòng lây nhiễm VGB cho bản thân và người xung quanh.

     

    Từ khóa: phòng lây nhiễm; virus viêm gan B.

     
     
     

    KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NƠI LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG ĐIỀU DƯỠNG NĂM CUỐI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015

     Trần Thuý Liễu và CS  

                                       

    Góp phần tìm hiểu một số yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn nơi làm việc từ phía sinh viên trường Cao đẳng Y tế Hà Nội. Mục tiêu: Xác định mức độ tác động của một số yếu tố đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Một số yếu tố tác động đến đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên điều dưỡng sau khi tốt nghiệp; Phương pháp nghiên cứu: phân tích tài liệu, điều tra dùng bảng các câu hỏi, thống kê toán học. Kết quả: còn lại 19 biến quan sátđược trích thành 5 nhân tố tác động đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên. Phân tích Cronbach Alpha cho thấy cả 5 nhân tố đều có ý nghĩa. Phân tích ANOVA cho thấy, có 3 nhân tố trong mô hình nghiên cứu có liên quan có ý nghĩa thông kê với một số đặc điểm cá nhân sinh viên trong việc tác động đến quyết định chọn nơi làm việc. Kết luận: Các nhân tố khám phá mà mô hình nghiên cứu đưa ra đều có tác động đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp, mức độ tác động từ mạnh đến yếu như sau: 1. nhân tố về chính sách ưu đãi; 2. nhân tố về các mối quan hệ, tình cảm; 3. nhân tố thu nhập, lương, chi phí cho cuộc sống; 4. nhân tố về môi trường sống, điều kiện địa lí và 5. nhân tố về điều kiện làm việc.

     
    Từ khóa: quyết định lựa chọn nơi làm việc; sinh viên điều dưỡng.
     
     
     
     

    KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU SINH MỔ CỦA SẢN PHỤ SINH MỔ LẦN 1 TẠI KHOA A3- BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

    NĂM 2015

    Mã Thị Hồng Liên; Hoàng Thu Hương; Trần Mai Huyên;

     Lê Tùng Lâm; Đào Thị Phương Dung 

     

    Đặt vấn đề: Mổ lấy thai (MLT) tăng nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây. Nếu giai đoạn ngay sau sinh mổ, sản phụ và trẻ sơ sinh được chăm sóc một cách khoa học sẽ tạo tiền đề tốt cho sức khỏe của mẹ và con. Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức chăm sóc sau mổ đẻ của sản phụ sinh mổ lần một tại khoa A3- Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014-2015. Mô tả thực trạng thực hành chăm sóc sau mổ đẻ của sản phụ sinh mổ lần một tại khoa A3- Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014-2015.

    Đối tượng và phương pháp: Thiết kết nghiên cứu mô tả cắt ngang phỏng vấn 180 sản phụ sau mổ đẻ lần 1, tại khoa A3 – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, ngày ra viện, không có biến chứng. Kết quả: Kiến thức về ăn đầy đủ chất dinh dưỡng sau mổ chiếm tỷ lệ cao nhất 88%; tỷ lệ sản phụ biết cần thay băng vệ sinh 2 lần và sau mỗi lần đại tiểu tiện là 48,6%. Tỷ lệ sản phụ bắt đầu ăn sau 6 giờ là 83,2% và 97% sản phụ được ăn cháo thịt lần đầu được ăn sau mổ; 73% sản phụ ngồi dậy sau 12 giờ. 0% sản phụ cho con bú sớm. Tỷ lệ sản phụ cho con bú 8-10 lần một ngày cả ngày lẫn đêm thấp 43,9%. Có 85% sản phụ cho con ăn sữa ngoài, trong số đó có 85% sản phụ cho trẻ bú bình. 31% sản phụ thay băng vệ sinh và vệ sinh bộ phận sinh dục 2 lần và sau mỗi lần đại tiểu tiện.

    Kết luận: Kiến thức của sản phụ về chăm sóc sau mổ khá tốt nhưng thực hành còn nhiều hạn chế.

    Kiến nghị: Nhân viên y tế nên tư vấn cho sản phụ và người nhà của họ về các chế độ chăm sóc sau mổ đặc biệt là chế độ dinh dưỡng và nuôi con bằng sữa mẹ để sản phụ sớm hồi phục và có sữa cho con bú.

     
    Từ khóa: sản phụ sinh mổ, chăm sóc sau mổ.

    KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC LỆCH LẠC KHỚP CẮN Ở SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA

     TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI NĂM 2015

    Hoàng Thị Đợi; Trần Chung Anh; Trần Thanh Tâm;
    Nguyễn Như Ước; Lê Thị Thúy Quỳnh
     

           Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 sinh viên điều dưỡng đa khoa trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, kết quả cho thấy: Tỷ lệ lệch lạc khớp cắn là 93,1%; sai khớp loại I: 10,6%; loại II: 30,6%; loại III: 22,7% và loại hỗn hợp: 29,2%. Ở Nam sai khớp hỗn hợp cao nhất chiếm 37,2%; ở nữ, sai khớp loại II chiếm cao nhất: 33,8%. Cung răng dạng hình vuông chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hàm trên và hàm dưới: Hàm trên:48,6%; hàm dưới: 46,3%; dạng Oval cao ở nam: 50,0%; ở nữ: 56,2%. Chỉ số Bolton < 91,3 ở nam: 67,4%; chỉ số Bolton > 91,3 ở nữ: 59,2%.

          Kết quả nghiên cứu kiến thức của sinh viên về lệch lạc khớp cắn cho thấy: 90,7% biết các răng mọc thẳng đều trên cung hàm; 24,5% biết độ cắn phủ là 2 -3 mm. Trên 70% sinh viên biết các dấu hiệu nhận biết tình trạng lệch lạc khớp cắn, và có kiến thức dự phòng, chăm sóc răng lệch lạc. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy kiến thức về lệch lạc khớp cắn của sinh viên năm thứ 3 tốt hơn năm thứ 2 và thứ 1.

    Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được, tác giả có khuyến nghị: Hàng năm, nhà trường cần tổ chức khám sức khỏe cho sinh viên và chú trọng phát hiện lệc lạc răng của sinh viên để tư vấn điều trị. Đồng thời tác giả đề nghị nên bổ sung thêm nội dung liên quan đến lệc lạc khớp cắn vào chương trình đào tạo sinh viên điều dưỡng đa khoa.

     
    Từ khóa: lệch lạc khớp cắn; sinh viên điều dưỡng.